Thắng lợi của giới bình dân La Mã cổ đại

Thắng lợi của giới bình dán. Thắng lợi đầu tiên của giới bình dân vào khoảng năm 470 TCN, khi họ buộc giới quý tộc đồng ý bầư chọn sô” lượng quan bảo dân có khả năng bảo vệ công dân bằng quyền phủ quyết dối với các hành động phi pháp của các quan hành chính địa phương. Tiếp theo sau thắng lợi này là yêu cầu thành công về việc ban hành phãp luật vào nàm 450 TCN. Kết quả là việc ban hành Luật 12 bảng nổi tiếng, được gọi như thê là do luật được viết trén các bảng gỗ. Mặc dù Luật 12 bảng dược người La Mã trong các thời đại sau này kính trọng, xem dó là một loại hiến chương tự do của nhân dân, nhưng thực tế không có nghĩa như thế, Nói chung, luật tiếp tục theo tập quán cổ đạí, thậm chí không xóa bỏ việc bán làm nô lệ để trừ nợ. Tuy nhiên, luật giúp cho người dân hiểu được mình có vị trí nào trong luật pháp, và họ được phép gửi đơn kháng cáo lên Hội đồng lập pháp dể phẩn đối hình phạt tử hình của quan hành chính địa phương. Khoảng một thế hệ sau, giới bình dân có đủ tư cách ứng cử vào các vị trí như quan hành chính địa phương cấp thấp, và năm 362 TCN bầu chọn quan tổng tài đầu tiên thuộc giới bình dân. Vì tập quán cổ đại quy định rằng các quan tổng tài, sau khi kết thúc nhiệm kỳ, tự dộng trở lại Viện nguyên lão, nên sự độc quyền của giới quý tộc trong Viện nguyên lão không còn nữa. Thắng lợi sau cùng của giới bình dân vào năm 287 TCN bằng việc thông qua Luật Hortensius (dặt theo tên người có quyền hành tuyệt dối Quintus Hortensius), quy định rằng biện pháp do Hội dồng lập pháp dưa ra sẽ có tính chất ràng buộc đối với thành phố-thành bang cho dù Viện nguyên lão có phê chuẩn hay khống.

Ý nghĩa thắng lợi của giới bình dăn> Ý nghĩa của những thay đổi này không nên được hiểu ỉầm, không phải tạo ra một cuộc cách mạng để giành nhiều tự do cho cá nhân hơn mà chỉ đơn thuần hạn chê quyến ỉực của các quan hành chính địa phương, và đấu tranh dể thường dân tham gia nhiều hơn trong chính quyền. Thành phố-thành bang như một tổng thể vẫn còn mang tính chát chuyên chế như trước đây, vì quyền bính của nó đối với công dân thậm chí không bị phủ nhận. Theo lời Theodor Mommsen, người La Mã từ thời người Tarquin cho đến người Gracchi “thật ra chưa hề xóa bỏ nguyên tắc cho rằng nhân dân không được cai trị mà bị trị”[1]. Do quan điểm này, việc ban toàn quyền lặp pháp cho Hội đồng lập pháp dường như chỉ mang tính hình thức, Viện nguyên lão vẫn tiếp tục cai trị như trước kia. Giới bình dân được chấp nhận vào Viện nguyên lão cũng không có tác động mở rộng tự do cho tổ chức ấy. Uy tín của Viện nguyên lão quá cao, quá sâu rộng, trong quyền bính La Mã, đến mức các thành viên mới ít lầu sau bị thái độ bảo thủ của thành viên cũ nuốt chửng. Ngoài ra, các quan hành chính địa phương không được hưởng lương dã ngăn cản hầu hết số công dân nghèo không muốn tìm kiếm chức vụ còng.

Xã hội và văn hóa La Mã vẫn còn khá nguyên thủy, về mặt tri thức và xã hội, người La Mã cũng có tiến bộ nhưng chậm, thời điểm này vẫn còn rất ban sơ, nguyên thủy.

Mặc dù đă có chữ viết vào đầu thế kỷ

  • TCN, nhưng ít dược sử dụng, ngoại trừ dùng để sao chép luật pháp, chuyên luận, và điếu vàn trong đám ma. Giáo dục cũng còn hạn chế trong các lời dạy từ người cha trong các mồn thể thao nam tính, nghệ thuật thực dụng và đức hạnh chiến binh, thì có lẽ đại đa số quần chúng vẫn còn mù chữ. Chiến tranh và nông nghiệp tiếp tục là những nghề chính đối với đa số công dãn. Trong thành phố cũng có vài thợ thu công, cũng có sự phát triển thương mại nho nhỏ, qua chứng cứ thuộc địa hàng hải ồ Ostia vùng duyên hải vào thế kỷ 4 TCN. Nhưng thương mại La Mã vào thời điểm này tương đôi không có ý nghĩa quan trọng nắm thấy rõ qua thực tẽ đất nước này cho đến 269 TCN vẫn chưa có hệ thông tiền tệ tiêu chuẩn.

Tôn giáo cửa người La Mã so vời tôn giáo của người Hy Lạp. Giai đoạn nền Cộng hòa đầu tiên là giai đoạn khi tôn giáo La Mã mang dặc điểm được dự định phải duy trì suốt phần lớn lịch sử đất nước này. Trong nhiều phương diện, tôn giáo này trông giống tôn giáo của người Hy Lạp, có lẽ là do di sản văn hóa kế thừa nguyên thủy của cả hai dân tộc đều phát xuất cùng một nguồn gốc. Cả hai tôn giáo đều mang nội dung thực dụng, thuộc thế giới này, không hề có nội dung tinh thần, cũng như đạo đức. Mối quan hệ giữa con người với thần thánh là mối quan hệ bền ngoài, máy móc, mang tính chất mặc cả hoặc giao kèo giữa các bên vì lợi ích cho cả hai. Thánh thần trong cả hai tôn giáo đều thực hiện cùng một chức năng: thần Jupiter cũng giống như thần Zeus, là nam thần cai quán bầu trời, nữ thần Minerva cũng giống như Athena là nữ thần bổn mạng của thợ thủ công, Venus giông như Aphrodite là nữ thần tình yêu, Neptune giống như Poséidon là nam thần biển, V.V.. Tôn giáo La Mã cũng không hơn gì tôn giáo Hy Lạp, đều không có giáo điều, phép bí tích hoặc niềm tin vào sự thưởng phạt ở kiếp sau.

Những sự tương phản với tôn giáo Hy Lạp. Nhưng cũng có những sự khác biệt đáng kể. Tôn giáo La Mă mang mục đích chính trị nhiều hơn và ít mang mục đích nhân văn hơn, nó không dùng để tôn vinh con người, hoặc làm cho con người cảm thấy tự nhiên như ở nhà, trong thế giới của mình mà để bảo vệ thành phố- thành bang khỏi sự xâm chiếm của kẻ thù, cũng như làm cho thành phố-thành bang thêm, quyền, lực và thịnh vượng. Thần thánh ít mang tính chất theo thuyết tánh người, thật ra, đây chí là kết quả của ảnh hưởng Hy Lạp và Etruscan khi họ tạo ra các thánh thần riềng tư nói chung, vốn trước đây đă được thờ phụng như numina hay vật linh. Người La Mã chưa hề nghĩ thần thánh của mình cãi lộn lẫn nhau hoặc hòa trộn với con người theo kiểu thần tính trong thời kỳ Homer. Sau cùng, tôn giáo La Mã hàm chứa nhữtig thành phần như những thầy tu nhiều hơn Hy Lạp. Thầy tu, theo họ thường gọi là pontiff, hình thành một tầng lớp có tổ chức, bản thân cũng là một nhánh cai trị. Họ không những giám sát việc dâng cúng lễ vật, mà còn là người bảo vệ một tổ chức phức tạp có luật pháp và truyền thống thiêng liêng, chỉ riêng họ mới hiểu. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rõ rằng những pontiff này không phải là thầy tu hiểu theo nghĩa những người trung gian giữa cá nhân người La Mã với thần thánh, họ không nghe lời xưng tội, không tha thứ tội lỗi, và không làm phép bí tích.

Hệ thống dạo đức trong nền Cộng hòa đầu tiên. Hệ thống đạo dức của người La Mã trong giai đoạn này và trong các giai đoạn sau hầu như không có liên quan gì với tôn giáo. Người La Mă không yêu cầu thần thánh ban phát cho mình điều tốt mà chỉ ban phát cho cộng đồng và cho gia đình lời chúc phúc cụ thể. Hệ thống đạo đức là vấn dề của chủ nghĩa ái quôc, thái độ tôn trọng quyền bính và truyền thống. Đức hạnh chủ yếu là lòng dũng cảm, danh dự, kỷ luật, kính trọng thần thánh và tổ tiên, có nghĩa vụ đối vổi quốc gia và gia đình. Trung thành với thành phố-thành bang là điềư kiện tiên quyết, quan trọng hơn hết. Vì lợi ích của thành phố-thành bang, công dân phải sẵn sàng hy sinh không những sinh mạng của mình, nếu cần phải hy sinh sinh mạng của cả gia đình lẫn bạn bè. Lòng dũng cảm của một số quan tổng tài, theo nghĩa vụ, phải xử con tội chết vì vi phạm kỷ luật quân đội là chủ đề dược nhiều người khâm phục. Một vài dân tộc trong lịch sử châu Âu, với ngoại lệ người Sparta và có lẽ là người Đức hiện đại, đã từng xem vấn đề quyền lợi quốc gia quan trọng hơn hết, và cá nhân phải hoàn toàn phục tùng vì lợi ích của quốc gia.

[1] The History of Rome, Tập 1, trang 313.

Related Posts

Leave a Reply