Quan niệm về thế giới bên kia của người Ai Cập

Quan niệm cua người Ai Cập vể thế giới bên kia phát triển trọn vẹn vào cuối lịch sử Trung Vương quôc. Ngay sau khi giai đoạn này bắt đầu, tín ngưỡng bao gồm khái niệm ba, hay “linh hồn”, ngoài qưan niệm về ka, hay “gấp đôi” ra. Cả hai được xem là sự tiếp tục sống sau khi chết cửa cá nhân. Ba là sự bay theo hình thức của loài chim. Ka đi thơ thẩn dạo chơi giống như “cái tòi khác” đang di đến những nơì xa xôi khi mơ trong lúc thể xác bị giữ chặt trong giấc ngủ. Cả ba lẫn ka sau cùng trở về và làm thể xác hồi sinh như thể thể xác vẫn đang còn sống. Vì lý dỡ này, phải có nhiều sự chuẩn bị công phu để ngăn sự tiêu hủy thi hài trên trần thê này. Không những thi hài được ướp mà nhũng ngưòi giàu có còn hào phóng bỏ vào nhiều đồ cứng đê xác ướp có đủ lương thực va cac vật dùng tẩn thiết khác để dùng. Khi tín ngUỡng đạt đến mức hoàn hảo, thì người ta ít chấp nhận các quan niệm ngảy the* về kiếp sống ở thế giới bên kia. Người chết lúc này theo người ia nghỉ, sò xuất hiện trước mặt nam thần Osiris dế dược phán x.ét tủy theo hành, động của mình đã làm trên trần thế. Quá trình phán xét diễn ra theo ba giai đoạn. Thứ nhất, người chết được yêu cầu phải tuyên bố mình không phạm 42 tội, trong đó có các tội sát sinh, trộm cắp, không thành thật, tham lam, ngoại tình, báng bổ thần thánh, mất bình tinh, kiêu căng, gian lận trong giao dịch làm ăn.

Kim tự tháp, công trình bí ẩn nhất loài người

Kim tự tháp, công trình bí ẩn nhất loài ngườii

Sau khi được tha vì không phạm hàng loạt các tội này, người chết sau đó buộc phải khẳng định đức hạnh của mình. Lúc này, người chết phải công khai tuyên bô mình đã đáp ứng yêu cẩu của thần, mình đã cho “bánh mì cho người đói, nước cho kẻ khát, quần áo cho kẻ trần truồng, và chở giúp người muốn sang sông nhưng không có thuyền”’“’. Trong giai đoạn thứ ba và cũng là giai đoạn cuối cùng, trái tim của “bị cáo” được đặt lên cân đế xác định tính chính xác trong lời khai. Theo quan niệm của người Ai Cập, trái tim tượng trưng cho lương tâm, sẽ phản bội lại người nào khai gian.

Thưởng phạt. Tất cả người chết đả qua được cuộc kiểm tra trong hệ thống phân xử này được vào vương quốc trên trời có nhiều sự thích thú tự nhiên và thú vui bình dị. Nơi đây họ sẽ săn bắt ngỗng, cút trong các đầm lầy mọc hoa huệ tây và hoa với sự thành còng bất tận. Hoặc họ sẽ cất nhà giữa vườn cây ăn quả với nưóc quả ngọt hái không bao giờ hêt. Họ sẽ thấy mình đang chèo thuyền trên hồ trồng hoa huệ tây, tắm mình trong các hồ bơi nước bắn tung tóe, và nhiều khu rừng nhỏ là nơi ở của nhiều loài chim ỏang hót du dương cùng các sinh vật hiền lành khác. Người bất hạnh, trái tim dể lộ cuộc sống độc ác phải bị đọa đày trong cảnh dói khát lầm than, bị giam cầm ở nơi tăm tối, không hưởng được ánh sáng vinh quang cùa thần mặt trời Re.

Hoàn thiện tín ngưỡng Ai Cập. Tín ngưỡng Ai Cập đạt dến mức hoàn thiện cao nhất vào khoảng cuối Trung Vương quốc và đầu giai đoạn Đế chê. Vào thời gian này, tục thờ mặt trời và tục thờ nam thần Osiris được kết hợp lại theo cách giữ lại những đặc điểm tốt nhất của cả hai. Lãnh thổ của thần Re trong cương vị thần của sự sống, là người đấu tranh cho cái thiện trên thế gian này, gần như có ý nghĩa quan trọng ngang bằng với các chức năng của nam thần Osiris trong cương vị người tạo ra sự bất tử cho con người và cũng là quan tòa phán xét người chết. Con người lặp lại lời tuyên bố khát vọng muôn công lý vì đức hạnh như thê mới làm vui lòng thần mặt trời vĩ đại.

Nghề thầy tê và mẽ tín. (Xem trang 65). Ngay sau khi thành lập Đế chế, tín ngưỡng vừa được mô tả trải qua một sự giảm giá trị Tất nghiêm trọng. Ý nghĩa dạo đức rằng tín ngường phần lớn bị biến mất, mê tín và ma thuật chiếm ưu thế. Nguyên nhân chính có vẻ là do cuộc chiến kéo dài, khốc liệt khi đánh đuôi người Hykso đã nuôi dưỡng thái độ phi lý và do đó cũng làm người tài trí bị giảm giá trị. Kết quả là sự gia tăng đáng kể quyền lực của các thầy tế, họ cầu nguyện dựa trên nỗi sợ hãi của quần chúng, dể làm tăng thêm lợi thế của riêng mình. Tham vọng của cải, họ tạo ra một thông lệ bán bùa mê, với công dụng ngăn không cho trâi tim người chết phản bội nhán cách thật của mình. Họ cũng bán công thức, được ghi trên các cuộn giấy cói papyrus và đặt vào lăng mộ, với công dụng tạo điều kiện thuận lợi cho người chết được ỉên vương quốc trên tròi. Tập hợp các công thức này tạo thành những gì thường được gọi là “Sách của người Chết”. Trái với suy nghĩ chung, đây không phải là “Kinh Thánh Ai Cập”, mà chỉ là một tập hợp gồm các câu đề tặng trong tang ma. Một SÉÍ câu đề tặng tuyên bố sự trong sạch đạo đức của người chết, số khác đe dọa thần thánh sẽ tạo ra tai họa trừ phi những người có tên ảược ban cho phần thưởng vĩnh hằng. Tất cả đều có người mua với suy nghĩ rằng những câu đề tặng này sẽ đảm bảo cho họ đến được vương quốc của thần Re. Lương tâm trong sạch và hành động thiện ]úc này được xem là lỗi thời.

Cách mạng tín ngưỡng của ỉkhnaton. Sự giảm giá trị của tín ngưỡng trong tay giới thầy tế trở thành một hệ thống thông lệ ma thuật sau cùng dẫn đến một sự cải cách quan trọng hay cách mạng tín ngưỡng. Lãnh đạo của phong trào này là Pharaon Amenhotep IV, bất đầu lên ngôi khoảng năm 1375 TCN. Sau một số nỗ lực bất thành nhằm chấn chỉnh nhừng lạm dụng dễ thấy nhất, nhà vua quyết định dẹp bỏ toàn bộ hệ thống. Nhà vua đuổi hết các thầy tế ra khỏi đền thờ, cho người đục bỏ tên các vị thần truyền thông ở các công trình tưởng niệm và ra lệnh cho thần dân phải thờ phụng một vị thần mới mà nhà vua gọi là “Aton”, một tên gọi mặt trời tự nhiên thời cổ đại. Nhà vua đổi tên mình từ Amenhotep (“Amen yên nghĩ”) thành Ikhnaton, nghĩa là “Aton thỏa mãn”. Ikhnaton là tên của nhà vua như mọi người đều biết đến trong lịch sử.

Giáo điều của Ikhnaton. Quan trọng hơn những thav dổi cụ thể này là một tập hợp giáo điều mới cùa vị Pharaon cải cách này. Theo nhiều tài liệu dáng tin cậy, trước tiên nhà vua truyền bá tín ngưỡng thờ một thần phổ biến, tuyên bô Aton là vị thần duy nhất đang tồn tại, vị thần không những của Ai Cập mà còn của toàn vũ trự’3. Ông phục hồi tính chât đạo đức trong tín ngưỡng khu vực với điều kiện tốt nhất bằng cách nhấn mạnh rằng Aton là tác giả nghĩ ra trật tự đạo đức trên thế giới và cũng là người tưởng thưởng cho những ai liêm chính và có trái tim trong sạch.

Ồng cùng tưởng tượng vị thần mới như một đấng tạo thành vĩnh hằng và cùng là người duy trì tất cả những gì có lợi cho con người, và trong tư cách người cha trên trời dang theo dõi với sự quan tâm chăm sóc nhân từ dành cho tất cả các sinh vật và con mình. Những quan niệm như thế này về aự đoàn kết, chính trực, và nhân từ của Thần thánh cho đến thời các thầy chiêm Do Thái khoảng 600 trăm năm sau mới dạt được.

Kết quả của cuộc cách mạng Ikhnaton. Cách mạng Ikhnaton khồng phải là cuộc cách mạng có thành cóng kéo dài. Các Pharaon kế vị nhà vua trong tư cách người cai trị Đế chế khồng cỏ cảm hứng với chủ nghĩa duy tâm hiến dâng như thế. Nhất là trường hợp của Tutenkhamen nổi tiếng, vị pharaon chấp nhận hành vi tham nhũng và vụ lợi của các thầy tế để giành lại quyền lực. Kết quả là sự phục hồi và dần dần mở rộng các tập tục mê tín trước dây rất thịnh hành trước khi Ikhnaton lên trị vì. Đôi với tuyệt đại quần chúng trong nước, ý nghĩa đạo đức của tín ngưỡng đã bị mất hẳn, thêm một lần nữa họ bị rơi vào sự ngu dốt và lòng tham của giới thầy tế. Tuy nhiên trong sô’ các giai tầng có học, ảnh hưởng từ các lời dạy của Ikhnaton vẫn còn kéo dài thêm một thời gian nữa. Mặc dù nam thần Aton không còn được công nhận nữa, nhưng những phẩm chết tốt đẹp mà nam thần thể hiện vẫn tiếp tục được kính trọng. Điều xảy ra là những thuộc tính của Aton lúc này được thiểu số có học chuyển thành Ammon-Re. Vị thần mặt trời trong truyền thông dược khẳng dịnh là vị nam thần duy nhâ’t và cũng là hiện thân của cống chính, công lý và chân lý. Ngoài ra, nam thần được thờ phụng như một hữu thể nhân từ, thương yêu “người lắng nghe lời cầu nguyện, người giúp đỡ kẻ nghèo khó và ngưòì cứu giúp kẻ chán chường”. Cũng nên lưu ý rằng đối với tín ngưỡng một thằn, dạo đức này được bổ sung một thành phần cứu rỗi cá nhân thông qua sự hối lãi. Các triết gia tín ngưỡng trong thời đại này phát triển một quan niệm mới cho rằng thần thánh kiềm chế không trừng phạt người phạm lỗi biết hối lỗi, những ngưòi chỉ than khóc xin được tha thứ một cách khiêm nhường.

Tín ngưỡng suy tàn thêm lẩn nữa.

Sự trung thành gắn bỏ của một vài người tài trí với những quan niệm cao thượng này không đủ để cứu tín ngưỡng thoát khỏi sự xuông cấp và suy tàn. Sự phát triển mê tín, sự phổ biến ma thuật, và ảnh hưởng làm tê liệt của giói thầy tế đang thoái hóa vẫn có ảnh hưởng nhiều hơn giáo điều được tán dương. Sau cùng, toàn bộ hệ thống niềm tin và thờ phụng bị chủ nghĩa hình thức, sự ngu dốt và bái vật giáo (thờ cúng đồ vật ma thuật), thờ cúng dộng vật, thuật gọi hồn (trò phù phép, nói trước chuyện vị lai bằng cách nói chuyện với người chết), và nhiều dạng ma thuật thô sơ khác, nuốt chửng. Sự buôn bán của giới thầy tê phát triển mạnh hơn bao giờ hết, và chức năng chính của tín ngưỡng có tổ chức trở thành việc mua bán công thức và bùa chú bóp nghẹt lương tâm và tung tin lừa gạt thần thánh sẽ ban cho sự cứu rỗi vĩnh hằng. Bi kịch càng tàng khi tin ngưỡng suy tàn tạo ra tác động tai hại đối với phẩn còn lại của văn hóa. Triết học, nghệ thuật, và sự cai trị liên kết mật thiết với tín ngưỡng, nên tất cả đều sụp đổ theo

 

Related Posts

Leave a Reply