Nơi xuất phát các nền văn minh lâu đời nhất

Thung lủng sông Niỉe và sông Tigris Euphrates có lẽ là trung tâm của các nền văn minh lâu dời nhất.
Nền văn minh vĩ đại nào trong thời cổ đại là nền văn minh lâu đời nhất cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận. Đánh giá của nhiều học giả thiên về người Ai Cập, mặc dù một tập hợp các nhân vật đáng kính trong ngành ủng hộ khẳng dinh thung lũng sông Tigris Euphrates. vẫn còn nhiều chuyên gia khác ủng hộ Elam, một vùng nằm phía đông thung lũng sông Tigris Euphrates, giáp vịnh Ba Tư. Trong khi ý kiến của số học giả không am hiếu thường thờ ơ với vấn dề, nhưng dù sao người ta vẫn cho rằng thung lũng sông Nile và sông Tigris Euphrates là quê hương của các nền văn hóa lâu đời nhất trong lịch sử. Hai khu vực này về mặt địa lý là khu vực được ưa chuộng nhất trong toàn vùng thuộc cái gọi là Vùng đát phì nhiêu hình lưỡi liềm , ơ đãy có nhiều đổ tạo tác chắc chắn thuộc thời cổ đại được tìm thảy nhiều hơn các kha vực khác trong vùng Cận Đông.
Ngoài ra, tiến bộ trong nghệ thuật và khoa học đã đạt được những đỉnh cao vô song trong cả hai lĩnh vực này vào đầu những năm 3000 TCN, trong khi hầu hết phần còn lại của thế giới đang chìm đắm trong sự mông muội. Nếu nền tảng của sự tiến bộ này thật sự đặt ở nơi khác, thì cũng có vẻ kì lạ khi lẽ ra chúng phải biên mất, mặc dù dĩ nhiên không ai biết được lưỡi xẻng nào của nhà khảo cổ có thể khai quật được chúng trong tương lai. Khả năng có thể rằng các nền văn minh lâu dời nhất thê giới có nguồn gốc hình thành ở An Độ hoặc Trung Hoa phải được loại trừ. Không có chứng cứ nào cho thây nền văn hóa nguyên thủy ở Ân Độ có trước năm 3250 TCN, và đỉnh điểm phát triển văn hóa mãi đến sau này rất lâư vẫn chưa đạt tới. Trước năm 1500 TCN, ở Trung Hoa chưa có nền văn minh nào thật sự phát triển.

Bản đồ vùng sông Nile

Bản đồ vùng sông Nile

Khu vực đất phì nhiêu hạn chê ờ thung lủng sông Nile. Trong số một vài ngưyên nhân có thể dẫn đến sự ra đời của các nền văn minh lâu đời nhất trong thung lũng sông Nile và sông Tigris Euphrates, các yếu tố địa lý dường như là yếu tô” quan trọng nhất. Cả hai khu vực đều có lợi thế đáng kể của một khu vực đất phì nhiêu nhưng có hạn. Mặc dù khu vực này kéo dài một khoảng cách khoảng 750 dặm (1200km), nhưng ở một sô” nơi chiều rộng chưa tới 10 dặm (16km), và chiều rộng ở chỗ rộng nhất là 31 dặm (khoảng 50km). Toàn bộ khu vực này có diện tích chưa tới 10.000 dặm vuông (25600km’0, hoặc tương đương với Bang Maryland. Trải qua không biết bao nhiêu thế kỷ, dòng sông đã khắc một hẻm hoặc hào rộng, hai bên bờ có nhiều vách đá dựng dứng, có chiều cao thay dổi từ vài trăm đến vài ngàn feet (khoảng 60 đến 600m). Dưới đáy hẽm núi được bao phủ một lớp trầm tích phù sa dày, có nơi hơn 30 feet (hơn 9m). Vùng đất có năng suất đáng ngạc nhiên đến mức có thể canh tác ba vụ trên cùng một mảnh đất. Hẻm núi rộng, phì nhiêu này tạo thành khu vực có thể canh tác của Ai Cập cổ đại. Có đến vài triệu người song tập trung ở đây. Trong thời La Mã, dân sô trong thung lũng ước tính có đến 7 triệu người, và có lẽ ít hơn nhiều so với thời Pharaon. Qua khỏi vách dá dựng đứng không gì khác hơn là hoang mạc — hoang mạc Libya ở phía tây và hoang mạc Arập ở phía đông. Trong ngôn ngữ Ai Cập cổ dại, “người cao nguyên” đồng nghĩa với người nước ngoài. “Đi lên” tương đương với đi nước ngoài, trong khi “đi xuống” là nhóm từ phổ biến để chỉ việc từ nước ngoài trở về quê nhà*.
Điều kiện tương tự ở vùng Lường Hà. Trong thung lũng sông Tigris- Euphrates điều kiện cũng tương tự. Cũng như ở Ai Cập, các con sông này là điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển nội địa, là nguồn cung cấp cá, gia cẩm, rất giàu chất đạm. Khoảng cách giữa sông Tigris và sông Euphrates có chỗ chưa tới 20 dặm (hơn 30km), trong khi không có nơi nào ở vùng thung lũng hạ lưu khoảng cách vượt quá 45 dặm (hơn 70km). Vì bao quanh đất nước là hoang mạc, nên dân chúng tránh việc sống rải rác trên một lãnh thổ quá rộng lớn. Kết quả, như ở Ai Cập, là sự hàn gắn cư dân với một xã hội
a J. H. Breasted, History of Egypt, trang 11.
cô đọng, trong điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi tư tưởng và khám phá.
Khi dân số tăng, nhu cầu phải có các cơ quan kiểm soát, quản lý xả hội trô nên cấp bách hơn bao giờ hết. Phần lớn trong số các cơ quan này là “chính quyền”, trường học, “cơ quan pháp luật” và hệ thống đạo đức, và nhiều thế chế phụ trách việc sản xuất và phân phôi ciia cải. Đồng thời, điều kiện sống trở nên phức tạp, giả tạo hơn, nhất thiết phải có sổ sách ghi chép việc gì đã làm xong và hoàn thiện kỹ thuật mới. Trong số các thành quả là việc phát minh ra chữ viết, kỹ thuật nung chảy kim loại, hoạt động toán học, phát triển thiên văn học và những kiến thức sơ đẳng về vật lý học. Với những thành tựu này, đã vượt qua thử thách quan trọng đầu tién của nền văn minh.
Lợi thế khi hậu ờ Ai Cập. Ảnh hưởng của khí hậư đóng vai trò quan trọng trong cả hai khu vực. Khí hậu của Ai Cập khô, có lợi cho sức khỏe. Ngay cả những ngày nóng nhất cũng không có sự khó chịu như thường có trong mùa hè ở nhiều nước phương Bắc. Nhiệt độ trung bình vào mùa đông thay đổi từ 56 độ F ở vùng Châu thổ dến 66 độ F trong thung lũng. Nhiệt dộ trung bình trong mùa hè là 83 độ F và đôi khi đạt mức cao nhất 122 độ F, nhưng ban đêm trời thường mát, độ ẩm cực thấp. Ngoạrtrừ vùng Châu thổ ra, lượng mưa không đáng kể, nhưng độ ẩm thiếu hụt do sông Nile gây ngập lụt hàng năm từ tháng 7-10 làm mất tác dụng. Điều rất có ý nghĩa xét từ quan điểm lịch sử là hoàn toàn không có bệnh sốt rét ở vùng Thượng Ai Cập, trong khi ô vùng ven biển thực tế có hay không là điều chưa rõ. Hướng gió thịnh hành cũng là yếu tố thuận lợi mang ý nghĩa quan trọng không kém. Hơn 9 tháng trong năm, gió thổi từ phương bắc, thổi ngược dòng chảy sông Nile. Ánh hưởng của hướng gió này làm nhẹ gánh vân đề vận chuyển. Vận chuyển ngược dòng, với lực đầy của gió làm mất tác dạng dòng chảy của sông, không gây khó khăn hơn vận chuyển xuôi dòng. Yêu tố này trong thời cổ dại phải được xem là thuận lợi rất lớn trong việc thúc đẩy giao lưu, tiếp xúc giữa nhiều người, sống cách nhau hàng trăm dặm.
Ảnh hưởng của khí hậu ở vùng Lư&ng Hà. Điều kiện khí hậu ở Lưỡng Hà có vẻ không hoàn toàn thuận lợi như ở Ai Cập. Cái nóng trong mùa hè gay gắt hơn, độ ẩm có phần nào cao hơn, và các bệnh nhiệt đới cùng hoành hành nhiều hơn. Tuy nhiên, gió nóng như thiêu đốt thổi từ An Độ Dương, trong khi làm suy yếu con người, thổi qua thung lũng chi theo mùa, giúp cho quả chà là chín rục. Quan trọng hơn bất kỳ điều gì khác là sản lượng chà là bội thu, sản phẩm ản kiêng chủ yếu của phương Đóng, khuyên khích nhiều người đến thung lũng giữa hai con sông định cư. Sau cùng, tuyết trên núi phía bắc tan làm cho vùng đồng bằng Babylonia hằng nàm lụt, giống như ở Ai Cập. Tác động này làm cho đất đai tăng thêm độ ẩm, và được phủ một lớp bùn có độ phì nhiêu đặc biệt.
Ý nghĩa quan trọng của lượng mưa ít như một động lực dẫn đến sáng kiến. Điều có ý nghĩa nhất trong sô các ảnh hưởng địa lý là lượng mưa ít ở cả hai khu vực, tạo ra một dộng lực thúc đẩy sáng kiến và kỹ năng sáng tạo. Mặc dù lũ lụt hằng năm, nhưng trong đất độ ẩm không đủ để có được mùa màng bội thu. Sau khi nước rút được một vài tuần, đất bị mặt trời thiêu đốt cứng như đá. Đòi hỏi phải có hệ thống tưới tiêu mới tận dụng hết độ phì nhiêu trong đất. Do đó, ỏ cả Ai Cập lẫn Lưỡng Hà, cách đây 5000 năm người ta đă xây dựng nhiều hệ thống đập và kênh tưới tiêu. Kỹ năng toán học, khả nàng kỹ thuật, sự hợp tác xã hội rất cần cho sự phát triển các dự án này cũng như được áp dựng trong các mục đích khác, do đó nuôi dưỡng thành tựu của nền văn minh.
Chứng cứ chọn Ai Cập. Vấn đề còn
lại phải được trả lời, trong sỏ hai nền văn minh, văn minh Ai Cập và văn minh Lưỡng Hà, nền văn minh nào lâu đời hơn? Vấn dề này từ lâu chưa cỏ được lời đáp thỏa mãn. Người ta đưa ra nhiều lý do khác nhau có vẻ thiên về Ai Cập nhiều hơn. Quan trọng nhất trong sô này, sô cư dân sông trong thung lũng sông Nile có được lợi thê địa lý nhiều hơn cư dân bản địa vùng Lướng Hà: khí hậu có lợi cho sức khỏe hơn, khí hậu tương đối không mang bệnh tật, và tính khả dựng kim loại và đá xây dựng chất lượng tốt. Ngoài ra, Ai Cập được bảo vệ tốt, tránh được sự xâm nhập và đồng hóa của các dân tộc chậm tiến. hơn. Ở phía đông và tây là hoang mạc không có đường đi, ở phía bắc là đường bờ biển không có hải cảng, ở phía nam là dãy rào chắn bằng đá với một loạt cơn mưa như trút nước ngăn đường tiến của các bộ tộc man rợ châu Phi. Chỉ có hai góc phía bắc mới vào được thung lũng dễ dàng. Trái lại, Lưỡng Hà tương đối không dược bảo vệ. Không phải dường biên nào cũng có mức độ an toàn đáng kể. Lưỡng Hà luôn cám dỗ các bộ tộc da mục thèm khát sông ở các vùng núi và hoang mạc xung qưanh. Do đó, quá trình phát triển vân hóa thường xuyên bị giám đoạn do sự xâm chiếm của các bộ tộc hay cướp phá này.
Không chắc nền văn minh nào lău đời hơn. Cho đến -gần đây, hầu hết các
sử gia đều mặc nhiên công nhận nền văn minh Ai Cập lâu đời hơn. Họ dựa vào kết luận của hai nhà Ai Cập học nổi tiếng nhất thê giới James H. Breasted và Alexandre Moret. Tuy nhiên, giữa hai cuộc thê chiên trong thê kỷ 20, nhiều vấn đề được khám phá dường như chứng minh rằng ảnh hưởng đáng kể cua Lưỡng Hà ở thung lũng sông Nile có từ 3500 TCN. Ảnh hưởng này được minh họa bằng việc sử dụng dấu niêm hình trụ, phương pháp xây dựng công trình, motif nghệ thuật, các thành phần trong hệ thông chữ viết chắc chắn có nguồn gốc Lưỡng Hà. Thành tựu như thế có thể từ thung lũng sông Tigris-Euphrates tỏa sáng đến tận Ai Cập từ lâu đời chắc chắn cho thấy nền văn minh Lưỡng Hà là nền vàn minh lâu đời hơn. Mặc dù không cần phải chứng minh, người ta cũng hiểu văn minh Lưỡng Hà lâu đời hơn vãn minh Aì Cập. Vì những thành tựu vừa nêu không được xem trọng và được sao chép mù quáng. Thay vào đó, người Ai Cập tự sửa đổi những thành tựu ấy một cách cơ bản để chúng phù hợp với mẫu văn hóa của riêng mình. Dựa trên cơ sở chứng cứ này, có vẻ như có thể rút ra được kết luận duy nhất rằng cả hai nền vãn minh đều rất lâu dời vả nói chung cả hai phát triển cùng lúc.

Related Posts

Leave a Reply