Luyện thi Violympic – Với giáo viên dạy giỏi

Luyện thi Violympic.Từ núi Nưa, nghĩa quân tìm cách liên kết rộng rãi vối hào kiệt bốn phương. Để lòng người hưống về một mối, Triệu Thị Trinh thảo hịch kể tội giặc Ngô, kêu gọi bà con trong quận, ngoài châu đứng lên giết giặc cứu nưóc. Lòi hịch bí mật truyền đi, tới đâu cũng được hào trưởng Vu dân chúng địa phương nhiệt liệt hưởng ứng.

Theo truyền thuyết “đá biết nói” hiện còn lưu hành ỏ vùng hữu ngạn sông Mã, các mưu sĩ của nghĩa quân đã sai ngưòi bí mật đến đục một hốc đá lốn trong núi Quan Yên rồi cho người vào ngồi kín trong hốic, đêm đêm đọc to bài đồng dao:

Có bà Triệu tướng

Văng lệnh Trời ra

Trị voi một ngà…

Trong đêm yên tĩnh, những câu đồng dao vang vọng tới khắp các làng chạ xung quanh, cả vùng xôn xao đồn rằng “núi Quan Yên biết nói”, rằng Tròi sai đá núi Quan Yên báo cho dân chúng biết Bà Triệu là thiên tướng được Tròi cử xuống giúp dân đánh giặc cứu nước. Một đồn mười, mười đồn trăm, câu chuyện thần kỳ cứ thê lan mãi đi và ảnh hưởng của nghĩa quân cũng lan mãi ra toàn quận, toàn châu.

 

>>Các bài giảng hay

 

Nhiều hào trưởng vùng Nhật Nam, cửu Đức nghe uy danh của nghĩa quân Bà Triệu đều tìm đến quy phục và hẹn ngày dấy nghĩa. Ớ phía nam quận cửu Chân (Hậu Lộc, Thanh Hóa), ba anh em Lý Hoàng Công, Lý Mỹ Công, Lý Thành Công hăng hái đứng ra thành lập một đội quân ở ngay địa phương, sẵn sàng phối hợp vối nghĩa quân núi Nưa nổi dậy “quét sạch giặc Ngô ra khỏi bờ cõi, cứu dân ra khỏi nơi chìm đắm”.

Lực nghĩa quân càng mạnh, thế nghĩa quân càng lên cao. Trong khi đó thì nhà Ngô đang phải tập trung lực lượng tranh chấp với Thục và Ngụy. Chính quyền đô hộ Giao Chỉ hết sức thối nát, lỏng lẻo, nhất là những quận phía Nam, ở xa châu lỵ. Lợi dụng thòi cơ ấy, vào mùa thu năm Đinh Mão 247, Bà Triệu cùng ông Triệu Quốc Đạt quyết định phất cờ khởi nghĩa, khởi binh đánh phá quận huyện.

Từ căn cứ núi Nưa, nghĩa quân bất ngò tiến xuống đánh thẳng vào Tư Phố, trị sở quận cửu Chân (khoảng xã Thiệu Dương, bò nam sông Mã ngày nay). Bị tập kích bất ngò nên bọn đầu sỏ giặc đóng tại Tư Phô” tuy có thành cao hào sâu song vẫn bị tiêu diệt hết sức nhanh

chóng. Trận đầu thắng lợi rực rỡ, nghĩa quân liên vượt sông Mã kéo ra Bồ Điền để hội với ba anh em họ Lý, cùng nhau mở rộng địa bàn hoạt động.

Tiếng cồng khởi nghĩa ngân vang đến đâu thì dân chúng liền vùng dậy đến đấy. Đội nghĩa quân của Bà Triệu và ông Triệu Quôc Đạt trẩy đến đâu cũng được trăm họ nô nức xin theo, thanh thê mỗi lúc một lón, đông tới hàng vạn.

Khí thế phấn khởi, lòng hảng hái yêu nước của nhân dân ta thời đó đã được phản ánh trong những câu ca dao quen thuộc còn truyền tụng đên tận bây giờ:

Ru con, con ngủ cho lành

Cho mẹ gánh nước, rửa bành con voi

Muốn coi lên núi mà coi

Có Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

Túi gấm cho lẫn túi hồng

Têm trầu cánh kiêrn cho chồng đi quân

Đi theo đội quân khởi nghĩa lúc ấy có đủ các thành phần: người săn bắn, dân chài lưối, người làm nghề nông, nuôi tằm, người đốn củi. Vũ khí của họ không có gì khác hơn là những thứ dụng cụ nghê nghiệp thông thường thời ấy, có thế đã được phản ánh qua bài đồng dao dưới đây: Này cò, này cấu (dao quắm)

Này đấu, này thưng Lưng sào cánh ná Này lá, này lao Nghe cồng bà rao Nghe lệnh ông gióng Nghe voi ông rống Chong chóng chạy về…

Tại Bồ Điền (Hậu Lộc, Thanh Hóa), nghĩa quân ông Đạt, Bà Triệu cùng nghĩa quân ba anh em họ Lý gấp rút xây dựng vùng này thành một căn cứ vững chắc. Theo truyền thuyết, họ dựng 7 đồn binh trên các điểm cao quanh Bồ Điền và một đồn chỉ huy tại Tùng Sơn. Lấy đó làm bàn đạp, nghĩa quân tiếp tục mở rộng hoạt động về mạn tây bắc Cửu Chân, nhằm mở rộng đường tiến ra giải phóng toàn châu Giao.

Trong cuộc giao tranh, ông Triệu Quốc Đạt hy sinh. Vị nữ tưáng họ Triệu liền đứng ra thay anh tiếp tục chỉ huy và được mọi người tôn làm Nhụy Kiều tướng quân. Sau cái chết của ông Triệu Quốc Đạt, sức mạnh của nghĩa quân chẳng những không giảm sút mà còn tăng lên. Vì, theo truyền thuyết, đội quân của ông Triệu Quốc Đạt trước đây kỷ luật thường không được nghiêm bằng quân Bà Triệu, đến khi hợp vói quân Bà Triệu thì kỷ luật trở nên nghiêm hơn nhiều. Từ đó, hàng ngũ nghĩa quân “trong càng thêm nghiêm chỉnh, ngoài vỗ về lòng dân, to nhỏ đều có quy củ, mọi việc đều tòng quyền mà làm, không có gì là không đầy đủ” (Việt điện u linh). Cũng theo truyền thuyết, mỗi khi xuất trận bà thường mặc giáp vàng, tóc cài trâm vàng, đi guốc ngà, cưỡi con voi dữ màu trắng, tả hữu cắm hai cây búa lón, phía trước có cây cung nặng trăm thạch thường dùng, tả xung hữu đột, chỉ huy ba quân xông xáo đánh địch như tiến vào chỗ không ngưòi.

 

Luyện thi Violympic –Kết luận bài văn

 

Với lối đánh ẩn hiện bất ngà dưới quyền chỉ huy tài giỏi của Nhụy Kiều tướng quân, lại được sự hưởng ứng của các lực lượng nổi dậy ỏ các địa phương, nghĩa quân đã liên tiếp đánh thắng nhiều trận, tiến ra giải phóng cả vùng bắc sông Mã và một phần huyện Yên Mô (Ninh Bình ngày nay). Tên thái thú cửu Chân và tên thứ sử Giao Châu đều phải đền tội. Tiếng tăm của Bà Triệu ngày càng lừng lẫy. Bọn quân tướng nhà Ngô đều gọi vị nữ tướng ấy là Lệ Hải Bà Vương (quận Cửu Chân có cửa biển Trường Lệ, quân Ngô coi bà như đã làm vua cửu Chân nên gọi như vậy). Mỗi khi giáp trận, thấy bóng Bà Triệu là chúng đều không dám ra đánh, chỉ khiếp sỢ đóng cửa giữ thành. Chính quân Ngô đã phải thú nhận.

Hoành qua đương hổ dị

Đối diện Bà Vương nan!

Nghĩa là:

Múa giáo chống hổ còn dễ Giáp mặt Vua Bà thật khó thay!

Chỉ tiếc rằng do chưa nhanh chóng đánh chiếm được trị sỏ châu, không đập tan được chính quyền đô hộ trung ương, nên giặc có chỗ dựa để đưa quân tiếp viện sang, thay đổi tình thế.

Related Posts

No Responses

Leave a Reply