Giả thuyết đất bạc màu, khí hậu và địa hình trong việc hình thành nền văn minh

Giả thuyết đất bạc màu. Liên quan với giả thuyết khí hậu là giả thuyết đất bạc màu. Một nhóm các nhà bảo vệ môi trường hiện đại tán thành giả thuyết này, cho đó là cách giải thích duy nhẫt về sự suy tàn và sụp đổ của các đế chế vĩ dại trong quá khứ và xem đó là mối đe dọa chung đổi với các dân tộc hiện tại và tương lai. Ớ mức độ chính xác nhất, đây chỉ là giả thuyết một phần, vì không đưa ra được giả thuyết về sự ra đời hoặc phát triển các nền vấn minh. Nhưng những người ủng hộ giả thuyết có vẻ nghĩ ràng gần như tất cả môi trường nào không bị con người hủy hoại đều có khả năng nuôi dưỡng một nền văn hóa vượt trội. Các vùng đất khô cằn và hoang mạc rộng lớn trẽn trái dất, theo họ khồng phải là do nguyên nhân tự nhiên mà do con người gây ra, qua các tập quán canh tác và chàn thả gia súc không phù hợp. Những người bảo vệ môi trường tìm thấy vô sô chứng cứ về đất bỏ hoang và sao nhãng dẫn đến nhiều thiệt hại ở những khu vực như Lưỡng Hà, Palestine, Hy Lạp, Ý, Trung Hoa và Mexico. Các nền văn minh một thời phát triển cực thịnh ở các nưóc này sau cùng phải bị diệt vong bởi một thực tế đơn gián đất dai trong nước không còn khả năng cưng câp đủ lương thực nuối sống dân số’. Do đó, những người thông minh hơn di cư di nơi khác, để lại những người kém hơn mình lâm vào cảnh trì trệ thống khổ. Nhưng sỏ phận bi đát không chỉ xảy ra đối với nhóm người thua kém. Con người đã tàn phá tài nguyên rừng, khai thác đất đến mức bạc màu, chăn thả gia súc trên vùng đất cho đến khi gia súc không còn rễ cỏ để ăn. Trong số các hậu qưả bi kịch là lũ lạt xen kẽ với hạn hán, vì không còn rừng để điều tiết dòng chảy của nước mưa hay tuyết tan. Đồng thời, phần lớn lớp đất mặt trên các sườn đồi bị thâm canh hoặc canh tác quá mức đã bị cuốn trôi hoặc chảy xuông các dòng sông, sau cùng chảy thẳng ra biển. Thiệt hại không thể khắc phục, vì phải cần khoảng 300 năm mới phủ dược lớp đất mặt dày chỉ một inch (2,54cm).

Biểu tượng nền văn minh ai cập

Biểu tượng nền văn minh ai cập

Giả thuyết địa hình. Tuy nhiên một giả thuyết địa lý khác là lập luận cho rằng địa hình bề mặt trái đất là yêu tố chính trong sự ra đời của. các nền văn minh. Người tiên phong nổi tiếng trong giả thuyết này là Karl Ritter, một người Đức sống vào nửa đầu thế kỷ L9. Ritter cho rằng hình thức và hình dạng của các lục địa có ý nghĩa vó cùng quan trọng trong việc tạo ra lợi thế phát triển văn hóa. Các lục địa đều có đường bờ biển không đều và diều kiện địa lý đa dạng tạo ra môi trường thuận lợi duy nhất cho các dán tộc phát triển. Lục dịa nào càng cô đọng và đồng nhất thì cư dân sông trên lục địa ấy càng chậm tiến hơn. Trên toàn bộ lãnh thổ, nền văn hóa của họ sẽ đồng nhất, và việc không có các hải cảng thuận lợi sẽ hạn chê sự tiếp xúc, liên lạc với thế giới bên ngoài. Hậu quả sẽ là sự trì trệ. Trái lại, các dán tộc sông ở lục địa như châu Àu chẳng hạn, có đường bờ biển dứt gãy đột ngột và đặc điểm dịa lý đa dạng, nên cớ nhiều lợi thế đáng kể. Người ta có thể tiếp cận lục dịa này bằng dường thủy vào tận trung tâm. Có rất nhiều vịnh, hải cảng, đảo nằm ngoài khơi bờ biển là nơi tránh bão an toàn. Do đó, khồng có gì phải ngạc nhiên khi châu Âu có thể phát triển đến mức “cao nhât trong các nền văn minh”:’.

Thậm chí còn nổi tiếng hơn nữa là một giả thuyết địa hình điển hình của sử gia người Anh Henry Thomas Buckle (1821-1862). Buckle chia các môi trường chính của con người thành hai nhóm: (1) nhóm môi trường kích thích trí tưởng tượng, và (2) nhóm môi trường tàng cường sự hiểu biết. Để minh họa cho nhóm môi trường kích thích trí tưởng tượng, ông dẫn chứng Ân Độ, nơi tác động của thiên nhiên ở “biên độ gây sửng sốt”, làm cho con người phải khiếp sợ và tạo cho con người có cảm giác mình không phải là yếu tô quan trọng. Vì thế, cư dàn bản địa tự hành xác mình, nghỉ ra nhiều vị thần ác, khủng khiếp, và theo tín ngưỡng có nhiều cuộc vui diên cuồng gớm guốc.

Phê phán giả thuyết địa hình. Giả thưyết địa hình dường như ít có người ủng hộ. Không nhà địa chất học nào đồng ý rằng các vết cắt ở bờ biển và độ cao của các dãy núi lại thay đổi quá nhiều trong suốt thời gian lịch sử. số lượng hải cảng của Hy Lạp ngày nay không nhiều hơn số lượng dưới thời Pericles, núi Olympus trong những năm gần đây cũng không thay đổi đến mức “biên độ gây sửng sốt”. Nhưng người Hy Lạp hiện đại không thể sánh với tiền nhân trong thành tựu tri thức. Nếu ảnh hưởng của địa hình có thể dẫn đến tư duy duy lý và phát triển cảm giác tự tin, hân hoan trong thành tựu thì tại sao ảnh hưởng ấy lại ngưng tác động? Giả thuyết không giải thích được một quốc gia như Thụy Sĩ lại có thể trở thành một trung tâm khai sáng hàng đầu trong thời hiện đại. Mặt khác, cũng không thể chối cãi rằng đường bờ biển không dều ỉà một tài sản dáng giá trong phát triển thương mại, do đó là một lợi thế quan trọng trong việc phổ biến và tiếp nhận kiến thức.

Related Posts

Leave a Reply