Định hướng và vạch lôi cho vua Mạc

Năm Ất Dậu (1585), Nguyễn Bỉnh Khiêm ốm nặng, biết mình không thê qua khỏi, ông liền thảo sớ dâng tạ vua Mạc, trong đó có câu rằng:

“Thần suy tính độ sô thấy vận nưóc nhà đã suy, vận nhà Lê đã đến hồi tái tạo, ý trời đã định, sức người khó theo. Song nhân giả có thể hồi thiên ý, xin nhà vua hết lòng tu nhân phát chính, lấy dân làm gốc, lấy nước làm trọng, trong sửa sang văn trị, ngoài chuyên cần võ công, may ra giữ được cơ nghiệp của tổ tông, thì thần chết cũng được thoả lòng…”.

>>Luyện thi Violympic với giáo viên dạy giỏi:Xem ở đây

Vua Mạc Mậu Hợp rất cảm động thương xót, sai sứ vê thăm bệnh, hỏi việc nước sau này. Trạng chỉ nói ngắn gọn:

  • Ngày sau có biến cô” gì, đất Cao Bằng dẫu nhỏ, song cũng có thể hưởng phúc được vài đời nữa?

Bảy năm sau, năm Nhâm Thìn (1592) Mạc Mậu Hợp bị bắt, toàn cõi thuộc về nhà Lê, còn quân tướng Mạc Toàn, Mạc Kính Cung chạy về giữ đất Cao Bằng, truyền cho Kính Khoan, Kính Vũ, ba đời được 71 năm quả như lời Trạng dặn.

>>Xem các bài viết khác

 

Cả cuộc đời của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm còn ảnh hưởng rất sâu rộng đến đông đảo các tầng lớp nhân dân và học trò của ông. Khi Trạng mất, ai nấy đều cảm thương, xa gần lớn nhỏ đều về hộ tang, không kể người Lê hay người Mạc, quân dân sĩ thứ cả nước đều kính phục và mến mộ ông.

Vài giai thoại vể “Sấm Trạng Trình”

Nguyễn Bỉnh Khiêm không những là một nhà tho’ lớn của nước ta, mà còn là người nổi tiếng tinh thông về địa lý, lý học. Trong nhân dân vẫn còn truyền tụng những lời tiên tri, những câu “sấm của Trạng” đã lần lượt xảy ra đúng như vậy, cách hàng mấy trăm năm sau. Vì vậy, ngày nay hai tiếng “sấm Trạng” vẫn còn nhiều người nhớ đến.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có một người học trò họ Bùi, người làng Trung Hàng, huyện An Dương, tỉnh Kiến An (nay thuộc thành phô Hải Phòng) rất thông hiểu việc quan trường. Trạng thường bảo:

  • Anh này ngày sau tất nhiên phát đạt!

Không ngò Bùi sinh lận đận mãi, ngoài năm mươi tuổi mà vẫn chưa làm nên chuyện gì, có ý không vui, thường nói vụng với các bạn môn sinh rằng:

  • Thầy ta vốn có tài tiên tri, nhưng cũng còn có chỗ nhầm, nghiệm như việc của tôi thì rõ!

Việc đến tai Trạng, Trạng chỉ cười thầm mà không nói gì. Một hôm, Trạng cho gọi Bùi sinh đến và dặn rằng:

  • Vận đạt của anh đã tới, anh cứ mượn lấy mười chiếc thuyên, chực sẵn ngoài cửa biển Vạn Ninh, trên Đân Hồng, đến ngày giờ ấy, gặp vật gì trôi, cứ vớt lấy mà mang về. Tiền trình phát đạt của anh ở đó!

Bùi sinh vâng lời thầy, nhưng trong lòng vẫn không tin.

Đúng kỳ hẹn, quả nhiên thấy có một vật trôi ở giữa dòng, Bùi sinh đem thuyên đón vỏt, thì ra đó là một bà lão tóc bạc phơ, bám vào một cây gỗ. Bùi sinh vốt lên cứu sông được, đem về phụng dưỡng như mẹ già của mình.

Mấy hôm sau, viên quan Tổng đốc Quảng Đông (Trung Quôc) sai sứ đem thư sang nói vói triều đình Mạc rằng: Bên ấy có Thái phu nhân đi chơi biển bị đắm thuyền, xem tinh tượng giạt vê phương Nam, xin Nam triều vì tình lân bang ra lệnh tìm giúp. Vua Mạc yết bảng cho dân miền duyên hải biết và hứa ban thưỏng rất hậu cho người nào tìm thấy. Bùi sinh xem bảng, lập tức đem bà lão vào triều, sứ Tầu cả mừng đưa rất nhiều vàng bạc, gấm vóc tạ ơn, lại xin nhà vua phong quan tước cho Bùi sinh. Sau này, Bùi sinh làm đến Thượng thư, tưốc Thao quận công, phú quý vinh hoa, đúng như lòi Trạng đã nói.

Lúc sinh thòi, Trạng tính đến đòi thứ bảy thì con cháu sa sút. Khi sắp lâm chung có viết một bức thư đê vào ông tre đậy nắp kín, gắn trám đưòng, cấm con cháu không được mở ra xem, sai ghi vào gia phả dặn con cháu đến đòi thứ bảy, ngày ấy, giò ấy, năm ấy sẽ đem trình quan huyện sở tại. Con cháu vâng lòi, đến cháu bảy đời là Thòi Đương, nhằm đúng năm, tháng, ngày giò đem ống di thư của Trạng lên trình quan. Quan huyện đang nằm trong tư thất, nghe nói có di thư của cụ Trạng Trình, lật đật chạy ra tiếp. Quan vừa đi khỏi thì chiếc xà nhà tự nhiên rơi xuông chính chỗ vừa nằm. Huyện quan và thuộc hạ đều lấy làm may quá. Khi tiếp thư, mở ra đọc, chỉ thấy có mấy chữ rằng: “Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách, nhĩ cứu ngã thất thế chi tôn”. Nghĩa là: Ta cứu ngươi cái ách xà rơi, ngươi nên cứu cháu bảy đòi của ta. Quan huyện cảm phục vô cùng, từ đó chu cấp cho người cháu bảy đòi của Trạng rất tử tế.

Đến triều Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 14 (1833). ở Hải Dương, có giặc tự xưng là con cháu Trạng Trình. Nhân bấy giò có câu sấm truyền rằng:

“Gia Long nhị đại, Vĩnh Lại vi vương”

(Đời thứ hai Gia Long, người ở Vĩnh Lại làm vua).

Vĩnh Lại là huyện của Trạng Trình. Triều đình lệnh cho quan Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ đem quân về làng Trung Am khám xét và huỷ đền thò Trạng ở nền cũ Bạch Vân. Ông Trứ phụng mệnh đem quân đến phá đền, thây có bia dựng ở cửa đền khắc mấy chữ rằng: “Huỷ ngã từ giả, bất đắc dự ư tư văn” (Phá đền thờ của ta ấy, không được dự vào hàng tư văn). Nguyễn Công Trứ cũng coi là thường, vẫn sai quân vào phá. Khi dỡ đến nóc đền chính, lại thấy có mấy chữ khắc rằng:

“Minh Mạng thập tứ, thằng Trứ phá đền, phá đền thì lại làm đền, nào ai cướp nước tranh quyền gì ai!”.

Ông Trứ bấy giờ mới sợ, truyền quân thôi không phá nữa, rồi về kinh tâu lên vua Minh Mạng xin làm lại đền. Sau bắt được tên giặc làm loạn, tra xét hoá ra không phải là dòng dõi Trạng.

Khi trước, lúc Trạng mất, mộ được an táng ở làng Trung Am, bên mộ có bia đá khắc mấy chữ rằng: “Bô’con thằng Khả đánh ngã bia tao, phạt cô tiền tam quán”.

Dân làng lúc đó đều không hiểu ý. Lâu dần, cát bồi lấp mất bia, không thấy nữa. Đến đời vua Thiệu Trị (1841 – 1847), có hai bô” con người đánh chuột tên là Khả, đào đất bắt chuột đánh đổ bia, dân làng đến xem thấy khắc chữ rõ ràng, ai nấy đều kính phục, bèn bắt phạt bố con tên Khả ba quan tiền và bắt phải dựng bia lại như cũ. Nhưng tên Khả chỉ có một quan tám tiền, xin mãi, dân làng thấy chữ “tam quán” nói lái thành “quan tám” nên đành bằng lòng nhận vậy.

Chuyện lại kể rằng, Trạng cho làm một ngôi mộ bình dương, đào hai huyệt, huyệt bên tả chôn tiểu có cốt, huyệt bên hữu để tiểu không, cũng không đắp nấm. Năm Thiệu

Trị thứ tư (1844), có một ông thầy địa lý có tiếng từ bên Trung Quốíc sang làm đất, xem đến ngôi đất ấy muốn để. Có ngươi nói đã có ngôi mộ của cụ Trạng Trình để ở bên tả. Thầy địa lý cả cười bảo mọi người rằng:

  • Nghe nói Trạng Trình là bậc thánh về địa lý, mà điểm huyệt còn nhầm lắm…

Thầy lại chỉ vào huyệt bên hữu, nói tiếp:

  • Huyệt này không để, lại để ỏ huyệt kia, thật là không có mắt!

Thầy địa lý bảo chủ nhà khai huyệt bên hữu, đào được mấy thước thây có tiểu, nhưng là tiểu không có cốt, mỏ ra chỉ thấy một viên gạch có khắc mấy chữ rằng: “Thử địa, tam bách niên tiền mạch hành vu tả, tam bách niên hậu mạch hành vu hữu, hà uị thánh nhân vô mục?” (Nghĩa là: Đất này ba trăm năm trưốc, mạch đi bên tả, ba trăm năm sau mạch đi bên hữu. Sao lại bảo Thánh nhân không có mắt?). Thầy địa lý người Tầu cả sợ mà nói rằng:

  • Thế mới thật là Thánh!

Giai thoại về “Sấm Trạng Trình” còn rất nhiều, chỉ khi nào ứng vào việc đã xảy ra rồi, ngươi đòi sau mối nhận rõ. Những câu sấm đó nếu đúng âu cũng là một thú vui tiêu khiển tinh thần của Trạng lúc sinh thòi, nhưng dân gian thường truyền tụng để răn dạy người đời. Tìm hiểu những giai thoại trên là để biết thêm về văn hoá của người xưa, và cũng còn biết bao điều bí ẩn cần phải tiếp tục tìm hiểu về vũ trụ và con người.

Related Posts

Leave a Reply